chế phẩm sinh học

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Mô hình trồng dưa leo xen cao su


Cao su là cây công nghiệp dài ngày, thời gian kiến thiết cơ bản (từ lúc mới trồng đến khi khai thác mủ lần đầu) khá dài, thường 5- 6 năm. Trong thời gian cao su chưa khép tán thì có thể trồng xen nhiều loại cây trồng khác nhằm tăng thêm thu nhập. Trước đây, gia đình anh Phố trồng xen mì (sắn) trong vườn để có thêm thu nhập nhưng không mấy hiệu quả, hơn nữa cây mì còn làm giảm tốc độ phát triển, sinh trưởng của cao su.

Vì vậy, anh trăn trở tìm hướng đi mới để vừa có thêm thu nhập trong thời gian cây cao su còn nhỏ, vừa không làm ảnh hưởng đến chất lượng đất.
Trồng dưa leo trong vườn cao su là sáng kiến của anh Hồ Ngọc Phố ở ấp 8C, xã Lộc Hòa (Lộc Ninh - Bình Phước). Tuy mới đưa vào thử nghiệm nhưng bước đầu mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Dẫn chúng tôi thăm mô hình trồng dưa leo xen trong vườn cao su, anh Phố vui vẻ nói: "Tôi mới trồng thử nghiệm trên 6 sào đất vườn cao su, không ngờ hiệu quả kinh tế rất khả quan trong khi chi phí đầu tư thấp. Hiện, bình quân mỗi ngày tôi thu hoạch hơn 1 tạ dưa leo, thương lái đến tận nhà thu mua với giá 6.000 - 8.000 đồng/kg, gia đình có thu 1,8 triệu đồng. Khoảng 1 tuần nữa tôi có thể thu hoạch 1 -1,5 tạ/ngày". Theo anh Phố, trừ chi phí, gia đình có thể thu lãi trên 60 triệu đồng/vụ. 
 


Qua một thời gian tìm tòi, học hỏi, anh thấy trồng dưa leo là thích hợp nhất bởi thời gian thu hoạch nhanh mà còn giữ được độ ẩm cho đất, tạo thuận lợi cho sự phát triển của cao su. Do đó, anh bàn với vợ trồng xen 6 sào dưa leo.

Anh Phố cho biết thêm: "Trồng dưa leo khá đơn giản, chỉ cần chăm sóc đúng kỹ thuật, tưới nước, bón phân đầy đủ, kịp thời là cây sẽ phát triển tốt và cho hiệu quả cao, chi phí cũng không quá lớn".

Về kỹ thuật trồng và chăm sóc dưa leo, anh Phố tiết lộ, khi mới làm đất, bón phân chuồng và NPK, sau đó rải đều vôi bột lên mặt đất, tới khi cây phát triển phun thuốc trừ sâu 1 lần/tuần.

Việc đưa cây dưa leo vào trồng xen cao su là mô hình mới, sáng tạo bởi diện tích cao su non vẫn còn khá nhiều trên địa bàn tỉnh Bình Phước, góp phần giúp bà con nâng cao thu nhập và ổn định đời sống khi cao su chưa cho mủ. 

(Dạ Thảo - Hàn Ngọc)

Phương Pháp Giúp Hành Tây Đạt Năng Suất Cao - Củ To

Phương pháp giúp hành tây đạt năng suất cao, củ to



Công thức phân bón khuyến cáo bón cho hành tây (theo IFA) là:(100 - 200kg) N + (100 - 200kg) P205 + (200 -300kg) K20.

Còn tại các vùng trồng hành ở Việt Nam thì khuyến cáo bón từ 15 - 20 tấn phân hữu cơ + (92 - 115kg) N + (64 - 80kg) P205 + (100 - 150kg) K20/ha. 
Nếu quy ra phân bón thương phẩm thì trên 1 ha có thể bón: (200 - 250kg) ure + (400 - 500kg) phân super lân + (200 - 300kg) K2S04.

Quy trình bón cụ thể như sau (tính cho 1.000m2): 
Bón lót: 2 tấn phân chuồng hoai + 100% phân lân + ¼ lượng phân đạm + ¼ lượng phân K2S04. 
Bón thúc lần 1 vào thời kỳ cây hồi xanh (sau trồng 7 - 10 ngày) với liều lượng phân đạm (5 - 7,5kg ure). 
Bón thúc lần 2 sau lần 1 từ 15 - 20 ngày với liều lượng: ¼ Lượng đạm (5 - 7,5kg ure)+ ¼ lượng phân K2S04 (kết hợp vun gốc). 
Bón thúc lần 3 sau lần 2 từ 15 - 20 ngày: Bón hết số phân đạm và kali còn lại (1/4 lượng đạm + ¼ lượng phân K2S04), kết hợp vun gốc.
Yêu cầu của các lần bón thúc là phải đáp ứng đúng nhu cầu dinh dưỡng.

Nếu sử dụng phân hỗn hợp NPK thì dùng như sau: 
Bón lót: 1 - 2 tấn phân hữu cơ chế biến (hữu cơ sinh học hoặc hữu cơ vi sinh, nếu ở các tỉnh phía Bắc có thể sử dụng phân hữu cơ Quế Lâm, Thiên Ân, còn phía Nam sử dụng phân hữu cơ Humix, Bacte.55...) phối hợp với phân lân nội địa. Nếu đất chua (pH < 6) thì cần sử dụng phân lân nung chảy bón lót 100 % với lượng bón 300kg/ha. Kết hợp sử dụng thêm chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái trong quá trình bón phân cho hành tây.

Bón thúc lần 1 vào thời kỳ hồi xanh (sau trồng 7 - 10 ngày):Sử dụng phân NPK (25-10-10 +TE) với liều lượng 100 kg/ha (10kg/1.000m2) hoặc phân bón SV(17-5-21 +TE) với lượng 100kg/ha.

Bón thúc lần 2 sau lần 1 từ 15 - 20 ngày:  Tiếp tục sử dụng phân NPK (25-10-10+TE) với liều lượng 150kg/ha (10 kg/1.000 m2) hoặc phân bón SV (17-5-21+TE) với lượng 150kg/ha. Nếu thấy hành lá nhỏ và xanh nhạt thì bón thêm 5 - 7kg ure/1.000 m2 = 50 - 70kg ure/ha

Bón thúc lần 3 sau lần 2 từ 15 - 20 ngày: Sử dụng phân NPK (15-7-15+TE) với liều lượng 150kg/ha (10kg/1.000m2) hoặc phân bón SV(17-5-21+TE) với lượng 150kg/ha. Chú ý riêng lần bón thúc 3 cây hành rất cần phát triển củ to nên phải bón thêm 100kg K2S04/ha (10kg K2S04/1.000 m2).
TS Nguyễn Đăng Nghĩa
(Trung tâm Nghiên cứu Đất - Phân bón & Môi trường phía Nam)

Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Phân Bón Hợp Lý Cho Cây Trồng

Phân bón hợp lý cho cây trồng

Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp . "Bón phân cân đối được hiểu là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng thiết yếu, đủ liều lượng, tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối tượng cây trồng, đất, mùa vụ cụ thể, đảm bảo năng suất" Sau đây tôi xin đề cập tới một số vấn đề sau:

Thế nào là bón phân hợp lý

Bón phân hợp lý là sử dụng lượng phân bón thích hợp cho cây đảm bảo tăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quả tiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái. Nói một cách ngắn gọn, bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng và một cân đối:

Cây cần phân gì bón đúng loại phân đó. Phân có nhiều loại. Mỗi loại có những tác dụng riêng. Bón không đúng loại phân không những phân không phát huy được hiệu quả, mà còn có thể gây ra những hậu quả xấu.

Bón đúng loại phân không những phải tính cho nhu cầu của cây mà còn phải tính đến đặc điểm và tính chất của đất. Đất chua không bón các loại phân có tính axit. Ngược lại, trên đất kiềm không nên bón các loại phân có tính kiềm.

b) Bón đúng lúc:

Nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng của cây thay đổi tuỳ theo các giai đoạn sinh trưởng và phát triển. Có nhiều giai đoạn sinh trưởng cây cần đạm nhiều hơn kali, có nhiều giai đoạn cây cần kali nhiều hơn đạm. Bón đúng thời điểm cây cần phân mới phát huy được tác dụng.

Cây trồng cũng như các loài sinh vật khác, có nhu cầu đối với các chất dinh dưỡng thường xuyên, suốt đời. Vì vậy, để cho cây có thể sử dụng tốt các loại phân bón, tốt nhất là chia ra bón nhiều lần và bón vào lúc cây hoạt động mạnh. Bón tập trung vào một lúc với nồng độ và liều lượng phân bón quá cao, cây không thể sử dụng hết được, lượng phân bị hao hút nhiều, thậm chí phân còn có thể gây ra những tác động xấu đối với cây.

c. Bón đúng đối tượng:

Trong cách hiểu thông thường bón phân là cung cấp chất dinh dưỡng cho cây. Vì vậy, đối tượng của việc bón phân là cây trồng.

Tuy vậy, thực tế cho thấy, một lượng khá lớn chất dinh dưỡng của cây, nhất là các nguyên tố vi lượng, cây được tập đoàn vi sinh vật đất cung cấp thông qua việc phân huỷ các chất hữu cơ hoặc cố định từ không khí. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho thấy bón phân để kích thích và tăng cường hoạt động của tập đoàn vi sinh vật đất cho phép cung cấp cho cây một lượng chất dinh dưỡng dồi dào về số lượng và tương đối cân đối về các chất. Trong trường hợp này thay vì bón phân nhằm vào đối tượng là cây trồng, có thể bón phân nhằm vào đối tượng là tập đoàn vi sinh vật đất.

Trong một số trường hợp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt tạo nên nguồn thức ăn dồi dào cho sâu bệnh tích luỹ và gây hại nặng. Càng bón thêm phân, cây lại sinh trưởng thêm, sâu bệnh lại phát sinh nhiều hơn và gây hại nặng hơn. Ở những trường hợp này, bón phân cần nhằm đạt mục tiêu là ngăn ngừa sự tích luỹ và gây hại của sâu bệnh.

Bón phân trong một số trường hợp có tác dụng làm tăng khả năng chống chịu của cây trồng đối với các điều kiện không thuận lợi trong môi trường và với sâu bệnh gây hại. Đặc biệt các loại phân kali phát huy tác dụng này rất rõ. Như vậy, bón phân không phải lúc nào cũng là để cung cấp thêm chất dinh dưỡng, thúc đẩy sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Có những trường hợp phải tác động theo chiều hướng ngược lại: cần kìm hãm bớt tốc độ tăng trưởng và phát triển của cây trồng, làm tăng tính chống chịu của chúng lên.

Ở phần trên đã trình bày là trong các hệ sinh thái, tồn tại và hoạt động 3 nhóm các mối liên hệ: thông tin, năng lượng và vật chất.

Trong các mối liên hệ này, liên hệ vật chất có liên quan đến việc vận động, chuyển hoá một khối lượng vật chất lớn. Các mối liên hệ thông tin và năng lượng trong nhiều trường hợp chỉ cần những tác động nhẹ với những lượng vật chất không lớn có thể tạo ra những phản ứng và hiệu quả lớn. Bón phân là đưa vào hệ sinh thái nông nghiệp những yếu tố mới và có tác động lên các mối liên hệ. Cho đến nay, trong việc bón phân người ta chỉ mới chú ý đến các mối liên hệ vật chất, đến trao đổi chất. Trong thực tế, phân bón có thể có những tác động sâu sắc trong các mối liên hệ thông tin và năng lượng. Phát hiện được tác dụng của phân bón lên các mối liên hệ thông tin và năng lượng, có thể với lượng phân bón không nhiều, tạo ra những hiệu quả to lớn và tích cực trong việc tăng năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường sinh thái.

Như vậy, đối tượng của phân bón không chỉ có cây trồng, tập đoàn vi sinh vật đất, mà còn có cả toàn bộ các thành tố cấu thành nên hệ sinh thái nông nghiệp. Chọn đúng đối tượng để tác động, có thể mở ra những tiềm năng to lớn trong việc nâng cao hiệu quả của phân bón.

d. Đúng thời tiết, mùa vụ

Thời tiết có ảnh hưởng đến chiều hướng tác động và hiệu quả của phân bón. Mưa làm rửa trôi phân bón gây lãng phí lớn. Nắng gắt cùng với tác động của các hoạt động phân bón có thể cháy lá, hỏng hoa, quả.

Trong điều kiện khí hậu, thời tiết và sản xuất của nước ta đối với các loại cây ngắn ngày, mỗi năm có 3 - 4 vụ, thậm chí 8 - 9 vụ sản xuất. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây trồng ở từng vụ có khác nhau, cho nên nhu cầu đối với các nguyên tố dinh dưỡng cũng như phản ứng đối với tác động của từng yếu tố dinh dưỡng cũng khác nhau.

Lựa chọn đúng loại phân, dạng phân và thời vụ bón hợp lý có thể nâng cao hiệu suất sử dụng phân bón. Việc sử dụng đúng các loại phân phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết mùa vụ đã được trình bày một phần ở phần II của sách này.

e. Bón đúng cách

Có nhiều phương pháp bón phân: bón vào hố, bón vào rãnh, bón rải trên mặt đất, hoà vào nước phun lên lá, bón phân kết hợp với tưới nước, v.v...
Có nhiều dạng bón phân: rắc bột, vo viên dúi vào gốc, pha thành dung dịch để tưới.

Có nhiều thời kỳ bón phân: bón lót, bón thúc đẻ nhánh, thúc ra hoa, thúc kết quả, thúc mẩy hạt, v.v...

Lựa chọn đúng cách bón thích hợp cho loại cây trồng, cho vụ sản xuất, cho loại đất, v.v... có thể làm tăng hiệu quả sử dụng phân bón lên gấp nhiều lần.
Cách bón thích hợp vừa đảm bảo tăng năng suất cây trồng, tăng hiệu quả phân bón, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng cơ sở sản xuất, phù hợp với từng trình độ của người nông dân.

g. Bón phân cân đối

Cây trồng có yêu cầu đối với các chất dinh dưỡng ở những lượng nhất định với những tỷ lệ nhất định giữa các chất. Thiếu một chất dinh dưỡng nào đó, cây sinh trưởng và phát triển kém, ngay cả những khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức thừa thãi.

Các nguyên tố dinh dưỡng không chỉ tác động trực tiếp lên cây mà còn có ảnh hưởng qua lại trong việc phát huy hoặc hạn chế tác dụng của nhau.

Đối với mỗi loại cây trồng có những tỷ lệ khác nhau trong mức cân đối các yếu tố dinh dưỡng. Tỷ lệ cân đối này cũng thay đổi tuỳ thuộc vào lượng phân bón được sử dụng. Tỷ lệ cân đối giữa các nguyên tố dinh dưỡng cũng khác nhau ở các loại đất khác nhau.

Điều cần lưu ý là không được bón phân một chiều, chỉ sử dụng một loại phân mà không chú ý đến việc sử dụng các loại đất khác.

Bón phân không cân đối không những không phát huy được tác dụng tốt của các loại phân, gây lãng phí mà còn có thể gây ra những tác dụng không tốt đối với năng suất cây trồng và đối với môi trường.

Bón phân cân đối có các tác dụng tốt là:

- Ổn định và cải thiện độ phì nhiêu của chất, bảo vệ đất chống rửa trôi, xói mòn.
- Tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả của phân bón và của các biện pháp kỹ thuật canh tác khác.
- Tăng phẩm chất nông sản.
- Bảo vệ nguồn nước, hạn chế chất thải độc hại gây ô nhiễm môi trường.

Thức Ăn Chăn Nuôi Cho Gà Sinh Sản Hướng Thịt

Thức ăn chăn nuôi gà sinh sản hướng thịt

Tiêu chuẩn khẩu phần thức ăn gà con 0-6 tuần tuổi

Gà con sinh trưởng nhanh, trao đổi chất mạnh, vì vậy, thức ăn cho gà con phải đầy đủ về số lượng. Các nguyên liệu đã sản xuất thức ăn phải tốt (ưu tiên số 1). Trong 3 tuần đầu, cho gà ăn tự do cả ngày lẫn đêm. Sau 3 tuần tuổi cho ăn hạn chế theo khối lượng cơ thể gà ở các tuần tuổi (đối với gà trống 4-6 tuần tuổi cho ăn từ 44-54g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 605-860g; gà mái cho ăn từ 40-50g thức ăn/ngày tương đương với khối lượng cơ thể 410-600g

Thức ăn cho gà giò 7-20 tuần tuổi

Đặc điểm gà ở giai đoạn này là tiếp tục tăng trưởng nhanh, nhưng tích luỹ mỡ nhiều (chóng béo), đối với gà hậu bị lại phải kìm hãm tăng khối lượng cơ thể và chống béo, để khi lên đẻ cho sản lượng trứng cao và ấp nở tốt. Vì vậy, phải hạn chế số lượng, kể cả chất lượng thức ăn. Số lượng thức ăn giảm còn khoảng 50-70% so với mức ăn tự do ban đầu. Còn protein và năng lượng thấp hơn gà đẻ. Gà trống cho ăn tăng dần từ 58-108g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 1-2,8kg, gà mái từ 54-105g thức ăn/con/ngày, tương đương với khối lượng cơ thể từ 0,7-2kg

- Ưu điểm của cho ăn hạn chế là chống béo sớm, tạo ngoại hình thon, kéo dài thời kỳ đẻ trứng đến 2 tuần, tăng sản lượng trứng giống, đặc biệt là kéo dài thời kỳ đẻ đỉnh cao, tăng số gà con/mái...

- Thực hiện nghiêm ngặt việc cho ăn hạn chế đối với gà hậu bị hướng thịt là yếu tố quyết định để đạt hiệu quả cao khi gà đi vào sản xuất con giống 1 ngày tuổi.

Tiêu chuẩn khẩu phần cho gà đẻ 21-64 tuần tuổi

- Đẻ khởi động 21-24 tuần tuổi: Đặc điểm của giai đoạn này là gà vừa ăn vừa hạn chế xong nên số lượng thức ăn cho gà phải tăng từ từ. Nhưng chất lượng thức ăn như protein, năng lượng... lại cao hơn gà hậu bị và gà đẻ ở giai đoạn sau để đáp ứng cho gà con đang tăng trọng, phát triển và hoàn thiện chức năng sinh sản chuẩn bị cho giai đoạn đẻ cao.

- Đẻ pha I từ 25-40 tuần tuổi: Giai đoạn này gà đẻ cao nhất, gà hầu như đã thành thục hoàn toàn, tăng trọng không đáng kể cho nên thức ăn phải đảm bảo cho sản xuất trứng cao. Số lượng thức ăn cho gà ở giai đoạn này là cao nhất, nhưng chất lượng có thấp hơn giai đoạn đẻ khởi động. Nhưng tính ra thì lượng vật chất khô và dinh dưỡng của thức ăn cung cấp cho gà ở giai đoạn này là cao nhất do gà ăn lượng thức ăn trên dưới 160g/con/ngày.

- Đẻ pha II từ 41-64 tuần tuổi: Giai đoạn này có thể kéo dài hoặc rút ngắn tùy theo giá cả thị trường. Đặc điểm của giai đoạn này là gà đẻ giảm dần, tích lũy mỡ bụng nhiều cho nên phải giảm cả số lượng và chất lượng thức ăn cung cấp cho gà. Thức ăn giảm dần từ 160g xuống 145g/con/ngày
.
+ Thức ăn cho gà trống ở thời kỳ đạp mái thấp hơn so với gà mái cả lượng và chất. Hiện nay ở nước ta, áp dụng phương pháp cho ăn tách riêng trống mái với số lượng thức ăn cho gà trống 125-130g/con/ngày trong suốt thời kỳ sản xuất.

+ Giảm sinh sản thời kỳ đẻ trứng giống cần bổ sung vitamin A, D, E vào thức ăn định kỳ 3 ngày/lần (có thể ngâm thóc mầm cho gà ăn). Mùa nóng cho gà uống nước điện giải và vitamin C.

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2012

Kỹ Thuật Trồng Nấm Linh Chi

Kỹ thuật trồng nấm Linh chi

Để có thể trồng nấm linh chi một cách tốt nhất, chúng tôi đã phải trải qua rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm giống, và những ngày tháng đó đúc kết cho chúng tôi những hiểu biết thêm về loại nấm này. Chúng tôi muốn chia sẻ những hiểu biết và kinh nghiệm của mình cho tất cả mọi người nhằm giúp mọi người có thể học hỏi, hiểu biết thêm trong kỹ thuật trồng nấm linh chi.

1. Thời vụ:

Thời gian bắt đầu cấy giống từ ngày 15/1 đến 15/3 và từ 15/8 đến 15/9 dương lịch.

2. Nguyên liệu

Linh Chi sử dụng nguyên liệu chủ yếu là mùn cưa tươi, khô của các loại gỗ mềm, không có tinh dầu và độc tố. Ngoài ra còn có thể trồng Linh Chi từ nguyên liệu là thân gỗ, các cây thuộc họ thân thảo.

3. Phương pháp xử lý nguyên liệu

* Chuẩn bị:

- Mùn cưa của các loại gỗ kể trên.

- Túi nilon chịu nhiệt.

- Bông nút, cổ nút…

- Các phụ gia khác (bột nhẹ,…)

- Nước sạch (nước sinh hoạt ăn, uống hàng ngày).

* Phương pháp đóng túi:

Mùn cưa được tạo ẩm và ủ tương tự như phần xử lý mùn cưa trồng mộc nhĩ.
Sau đó phối trộn thêm với các phụ gia đóng vào túi theo kích thước trên sao cho khối lượng túi đạt 1,1-1,4kg rồi đưa vào thanh trùng.

* Phương pháp thanh trùng:

Phương pháp 1: Hấp cách thuỷ ở nhiệt độ 1000C, thời gian kéo dài 10-12 giờ.
Phương pháp 2: Thanh trùng bằng nồi áp suất (Autoclave) ở nhiệt độ 119-1260C (áp suất đạt 1,2-1,5at) trong thời gian 90-120 phút.

4. Phương pháp cấy giống

* Chuẩn bị:

- Phòng cấy: Phòng cấy giống phải sạch (được thanh trùng định kỳ bằng bột lưu huỳnh).

- Dụng cụ cấy giống: que cấy, panh kẹp, đèn cồn, bàn cấy, cồn sát trùng…(được thanh trùng bảo đảm).

- Nguyên liệu: Đã được thanh trùng, để nguội.

- Giống: Sử dụng hai loại giống chủ yếu là trên hạt và trên que gỗ.

Giống phải đúng tuổi, không bị nhiễm nấm mốc, vi khuẩn, nấm dại…

* Cấy giống:

Phương pháp 1: Cấy giống trên que gỗ. Với phương pháp này cần tạo lỗ ở túi nguyên liệu có đường kính 1,8-2cm và sâu 15-17cm. Khi cấy giống phải đặt túi nguyên liệu gần đèn cồn và túi giống, sau đó gắp từng que ở túi giống cấy vào túi nguyên liệu.

Phương pháp 2: Sử dụng giống Linh Chi cấy trên hạt. Ta dùng que cấy kều nhẹ giống cho đều trên bề mặt túi nguyên liệu tránh giập nát giống. Lượng giống: 10-15gam giống cho 1 túi nguyên liệu (1 túi giống 300 gam cấy đủ cho 25-30 túi nguyên liệu).

Chú ý:

Giống cấy phải đảm bản đúng độ tuổi.

Trước khi cấy giống ta phải dùng cồn lau miệng chai giống bóc tách lớp màng trên bề mặt nhưng không được để hạt giống bị nát.

Trong quá trình cấy, chai giống luôn phải để nằm ngang.

Sau khi cấy giống ta đậy nút bông lại, vận chuyển túi vào khu vực ươm.

Phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ phòng cấy giống.

5. Phương pháp ươm túi

* Chuẩn bị khu vực ươm

Nhà ươm túi đảm bảo các yêu cầu: Sạch sẽ, thông thoáng, độ ẩm từ 75% đến 85%, ánh sáng yếu, nhiệt độ 20-300C.
* Ươm túi

Chuyển nhẹ nhàng vào nhà ươm và đặt trên các giàn giá hoặc xếp thành luống. Khoảng cách giữa các túi 2-3cm. Giữa các giàn luống có lối đi để kiểm tra.

Trong thời gian ươm không được tưới nước, hạn chế tối đa việc vận chuyển.

Trong quá trình sợi nấm phát triển nếu thấy có túi bị nhiễm cần phải loại bỏ ngay khỏi khu vực ươm, đồng thời tìm nguyên nhân để có cách khắc phục:

Túi bị nhiễm bề mặt phần lớn do thao tác cấy và phòng giống bị ô nhiễm.
Túi bị nhiễm từng phần hoặc toàn bộ có thể do bị thủng hoặc hấp vô trùng chưa đạt yêu cầu. 
6. Phương pháp chăm sóc, thu hái

Chuẩn bị các điều kiện:

- Nhà trồng nấm phải đảm bảo sạch sẽ thông thoáng, có mái chống mưa dột và chủ động được các điều kiện sinh thái như sau:
- Nhiệt độ thích hợp cho nấm mọc dao động từ 220C đến 280C.
- Độ ẩm không khí đạt 80-90%.
- Ánh sáng khuếch tán (mức độ đọc sách được) và chiếu đều từ mọi phía.
- Kín gió.
- Trong nhà có hệ thống giàn giá để tăng diện tích sử dụng.

Trong quá trình chăm sóc, thu hái linh chi có 2 phương pháp sau:

7. Phương pháp không phủ đất

Rạch túi và tưới nước. Kể từ ngày cấy giống đến khi rạch túi (khoảng 25-30 ngày) sợi nấm đã ăn kín ¾ túi. Tiến hành rạch 2 vết rạch sâu vào trong túi 0,2-0,5cm, đối xứng trên bề mặt túi nấm. Đặt túi nấm trên giàn cách nhau 2-3cm để nấm ra không chạm vào nhau.

Từ 7 đến 10 ngày đầu chủ yếu tiến hành tưới nước trên nền nhà, đảm bảo độ ẩm 80-90%, thông thoáng vừa phải.

Khi quả thể nấm bắt đầu mọc từ các vết rạch hoặc qua nút bông thì ngoài việc tạo ẩm không khí, có thể tưới phun sương nhẹ vào túi nấm mỗi ngày từ 1-3 lần (tuỳ theo điều kiện thời tiết). Chế độ chăm sóc như trên được duy trì liên tục cho đến khi viền trắng trên vành mũ quả thể không còn nữa là hái được.

Thu hái:
- Dùng dao hoặc kéo sắc cắt chân nấm sát bề mặt túi.
- Quả thể nấm sau khi thu hái được vệ sinh sạch sẽ, phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ 400C-450C.
- Độ ẩm của nấm khô dưới 13%, tỷ lệ khoảng 3kg tươi được 1 kg khô.
- Khi thu hái hết đợt 1, tiến hành chăm sóc như lúc ban đầu để tận thu đợt 2.
- Năng suất thu hoạch đạt 6-9% tươi, tương đương 1,8-3% khô (1 tấn nguyên liệu thu được từ 18 đến 30kg nấm Linh Chi khô). Khi kết thúc đợt nuôi trồng cần phải vệ sinh và thanh trùng nhà xưởng bằng foócmôn với nồng độ 0,5-1%.

8. Phương pháp phủ đất

Chuẩn bị đất phủ (tương tự như đất phủ nấm mỡ).

Cách phủ đất: Khi sợi nấm đã ăn kín khoảng ¾ túi, gỡ bỏ nút bông, mở miệng túi, phủ lên trên bề mặt một lớp đất có chiều dày 2-3cm.

Chăm sóc sau khi phủ đất: Nếu đất phủ khô cần phải tưới rất cẩn thận (tưới phun sương) để đất ẩm trở lại. Tuyệt đối không tưới nhiều, nước thấm xuống nền cơ chất sẽ gây nhiễm bệnh, ảnh hưởng đến quá trình hình thành quả thể nấm. Trong thời gian 7-10 ngày đầu (kể từ lúc phủ đất) cần duy trì độ ẩm không khí trong nhà đạt 80-90% bằng cách tưới nước thường xuyên trên nền nhà. Khi quả thể bắt đầu hình thành và nhô lên trên mặt lớp đất phủ cần duy trì độ ẩm liên tục như trên cho đến thời điểm thu hái được. Thời gian từ khi nấm lên đến lúc thu hoạch kéo dài khoảng 65-70 ngày. Khi đó ngoài việc duy trì độ ẩm trong phòng thì ta còn phải tưới phun sương nhẹ trực tiếp trên bề mặt đất phủ 1-3 lần trong ngày (tuỳ theo điều kiện thời tiết) mục đích để giúp đất phủ luôn duy trì độ ẩm (tương tự độ ẩm của đất trồng rau). Việc chăm sóc như trên kéo dài liên tục cho tới khi viền màu trắng trên mũ nấm không còn nữa, lúc đó nấm đến tuổi thu hái

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

Biện pháp chống nóng cho tôm, cá vào mùa hè



Thời tiết nắng nóng sẽ làm môi trường nước của tôm, cá tăng giảm đột ngột. Tác động này có thể kích thích dây thần kinh da làm mất khả năng điều tiết hoạt động của các cơ quan, làm phát sinh ra bệnh và có thể gây chết hàng loạt cho tôm cá. Sau đây là một số kinh nghiệm chống nắng cho tôm cá.



Đối với nuôi cá ruộng:
- Cần bảo đảm lượng nước đầy đủ, tránh nước rò rỉ bằng cách đầm nén chặt bờ.
- Đào mương và tạo các chỗ trũng trong ruộng làm nơi trú ẩn cho cá vào những ngày nắng nóng kéo dài và cũng là nơi tập trung cho cá ăn, thu hoạch cá. Nếu là ruộng nhỏ, đào một chỗ trũng, nếu là ruộng to đào 2-3 chỗ trũng ở giữa ruộng hoặc rìa ruộng. Diện tích chỗ trũng chiếm 2-3% tổng diện tích ruộng.
- Hệ thống mương hình dấu cộng (+) hoặc hình chữ nhật để nối thông giữa các chỗ trũng. Mương rộng 0,5m, độ sâu khoảng 0,5 m.

Đối với ao, hồ nuôi cá, tôm:
- Cần tẩy dọn sạch sẽ, nạo vét bùn, chỉ để lượng bùn vừa phải, sau đó phơi nắng đáy ao thật kỹ trước khi đưa vào nuôi.
- Phân bón cần được ủ kỹ, lượng bón tuỳ theo điều kiện thời tiết và chất nước mà điều chỉnh cho thích hợp.
- Mật độ cá, tôm thả ương nuôi, mật độ trứng ấp không nên quá dày để bảo đảm môi trường đủ ô xy.
- Cho cá, tôm ăn nên áp dụng biện pháp 4 định: định chất lượng, định số lượng, định thời gian và định địa điểm. Nếu thức ăn hằng ngày thừa, phải vứt bỏ.
- Trong vận chuyển cá tôm phải chọn thời tiết có nhiệt độ thích hợp. Nếu nhiệt độ quá cao, phải có biện pháp xử lý hạ nhiệt khi vận chuyển. Nhiệt độ nước chênh lệch trong vận chuyển, đối với cá, tôm cỡ lớn, nhiệt độ thay đổi không quá 5 oC; đối với con giống, không quá 4 oC.
- Thường xuyên theo dõi sự biến đổi của môi trường để bơm nước sạch vào ao, nên dùng máy sục khí để kịp thời bổ sung ô xy cho ao ương nuôi.
Bảo Ngọc

Thứ Năm, 21 tháng 6, 2012

Mô hình trồng cà phê mới "Ba lớp giống hai tầng cấy"

Mô hình trồng cà phê mới "Ba lớp giống hai tầng cấy"

Vườn cà phê thử nghiệm “ba trong một” của hộ nông dân Nguyễn Xuân Bách tại xã Lộc Tân (Bảo Lâm - Lâm Đồng) cho kết quả khả quan.

Hay tin mới đây, Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả (Sở NN-PTNT Lâm Đồng) thử nghiệm thành công mô hình sản xuất cà phê hoàn toàn mới – mô hình vườn cây ba lớp giống và hai tầng cây, chúng tôi đã về Bảo Lộc và Bảo Lâm để tìm hiểu. Qua đó, theo nhận định bước đầu của các chuyên gia, rất có thể đây là mô hình tốt cho vùng nguyên liệu cà phê Lâm Đồng trong tương lai.

Thay vì trồng thuần một loại giống cà phê như lâu nay, mô hình sản xuất mới do Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả (thuộc Sở NN-PTNT Lâm Đồng) thử nghiệm này có đến 3 lớp cây giống cà phê – giống chín sớm (đúng vụ), giống cho thu hoạch hơi muộn và đặc biệt là giống cho thu hoạch muộn (gần như là trái vụ). Đây được xem là mô hình sản xuất cà phê theo hướng bền vững hoàn toàn mới ở Việt Nam.

Cà phê Tây Nguyên bắt đầu chín từ đầu tháng 10 hằng năm, và thời gian thu hoạch trong vòng trên dưới một tháng. Hiện trên vùng đất này, nhà vườn trồng phổ biến các giống cà phê chín đúng vụ (đầu tháng 10) như TS-1, TR-11… Tuy nhiên, trong thực tế, do điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng…, vùng nguyên liệu cà phê Nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) “tạo” nên những giống chín muộn rất đáng quan tâm như TR-9, TR-16… Đồng thời, ở giữa các giống chín sớm TS-1, TR-11 và các giống chín muộn TR-9, TR-16 là các giống “trung gian” như TS-4, TR- 4… Trên cơ sở nghiên cứu các giống cà phê TR-16, TR-9… trong nhiều năm qua, đến cuối năm 2008, cùng với thử nghiệm trên diện tích 0,5 ha tại Trung tâm Thực nghiệm Nông lâm nghiệm ở xã Đạm Bri (huyện Bảo Lâm), Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng cũng đã thuyết phục một hộ dân có vườn cà phê ở xã Lộc Tân (Bảo Lâm) là ông Nguyễn Xuân Bách (trú tại ph"Arial","sans-serif"">ường Lộc Sơn, Bảo Lộc) tiến hành ghép cây giống theo kiểu “ba vòng” trên diện tích 6 ha. “Và cho đến lúc này, sau ba năm thực hiện thử nghiệm mô hình vườn cà phê ba lớp cây giống tại Trung tâm Thực nghiệm Nông lâm nghiệp và đặc biệt là tại vườn của ông Bách, Trung tâm chúng tôi mạnh dạn công bố là kết quả mang lại là khá tốt về nhiều mặt” – Kỹ sư Phan Hải Triều - GĐ Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng nói.

Cách làm được cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả đưa ra là: Dựa vào địa hình và đặc điểm sinh trưởng của các giống cà phê hiện có, ở khu vực trung tâm của trang trại giữa đỉnh đồi hoặc lưng chừng đồi được trồng các giống chín muộn TR-9, TR-16; vòng giữa là các giống chín hơi muộn TS-4, TR-11; và vòng ngoài cùng ở phía chân đồi là các giống chín đúng vụ TS-1, TR-11.

Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Cây ăn quả cho thấy, các giống cà phê chín muộn là các giống có khả năng chịu hạn khá tốt (đến tháng 12 năm trước và tháng 1 năm sau, Tây Nguyên hầu như không có mưa nhưng TR-9, TR-16 vẫn cho trái lớn, nhân đạt chuẩn). Do vậy, việc bố trí trồng các giống chín muộn trên vùng đất cao trên đỉnh đồi ở “vùng lõi” quanh sân phơi, gần lán trại là hợp lý. Ở “vùng đệm” lưng chưng đồi, các giống có khả năng chịu hạn ít hơn là TS-4, TR-4, trái chín trong vòng tháng 11 cũng chính là “vụ đệm” trong thu hoạch cà phê của người nông dân. Tiếp đến, ở vòng ngoài cùng, vùng thấp nhất của quả đồi được bố trí trồng các giống TS-1, TR-11 – các giống ít có khả năng chịu hạn, trái chín đúng vụ, sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt trong môi trường có độ ẩm còn lớn (chân đồi). Với ba lớp cây giống cà phê theo kiểu này, thời gian thu hoạch sẽ được kéo dài trong vòng từ 3 – 4 tháng (từ đầu tháng 10 năm trước đến cuối tháng 1 năm sau) trước hết là làm giảm áp lực về công lao động (thường thì vào vụ cà phê, nhà vườn Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn trong việc thuê mướn công thu hái); đồng thời, giúp làm giảm “áp lực” tâm lý “xanh nhà hơn già đồng” của người nông dân trước nạn trộm cắp cà phê diễn ra ngày một phổ biến (vì cà phê chín đến đâu thu hoạch đến đó) để từ đó nâng cao chất lượng cà phê nguyên liệu. Và đặc biệt, vườn cà phê “ba lớp” kiểu này còn có thể điều tiết được giá cả thị trường nếu thị trường cà phê nhân trong nước và quốc tế vào vụ thu hoạch chính có nhiều biến động (nhờ ở việc thu hoạch rải ra trong nhiều tháng). Đó là chưa nói đến việc có thể hiệu quả kinh tế của vườn cà phê ba lớp cây giống này cũng sẽ được cao hơn nhờ ở thực tế thiếu hụt nguồn hàng trên thị trường cà phê thế giới vào cuối vụ.
Ông Hùng ở xã Lộc An, người đồng ý cho Trung tâm Cây ăn quả tiếp tục tiến hành thử nghiệm mô hình vườn cà phê ba lớp cây giống trên diện tích hơn 20 ha trong vụ này, cho biết: “Tôi cũng đã tham khảo nhiều mô hình trồng cà phê ở Tây Nguyên nhưng chưa nhìn thấy ở đâu có cách làm như thế này của Trung tâm. Đây là cách làm hoàn toàn mới; mà thường thì mới, có thành công nhưng cũng xen lẫn thất bại; nhưng tin rằng, mô hình này được triển khai trên diện tích hơn 20 ha của tôi sẽ thành công!”. Theo cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng thì ông Hùng là một trong những hộ có rất nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, nhất là cây cà phê, nên Trung tâm rất tin tưởng khi chọn vườn cà phê nhà ông để triển khai mô hình “cà phê ba lớp cây” mà Trung tâm đang theo đuổi. Còn theo ông Hùng, người trồng cà phê lâu năm có nhiều kinh nghiệm, vườn cây nhà ông đang trong giai đoạn cho thu hoạch và khá sung mãn nên việc ghép cành để tạo vườn cà phê ba lớp cây cho thu hoạch từ chính vụ (chín sớm) đến “sau vụ” (chín hơi muộn) và “muộn vụ” (chín muộn) rất có khả năng mang lại những kết quả khả quan bất ngờ. Cũng theo các cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Cây ăn quả Lâm Đồng, việc tạo nên vườn cây giống cà phê ba tầng này chỉ nên thực hiện ghép cải tạo trên gốc cây đang trong thời kỳ sung mãn, không nên ghép trên gốc cà phê đã già cỗi, thoái hóa; và, trang trại cà phê hơn 20 ha của ông Hùng ở xã Lộc An trở thành “đích ngắm” của mô hình này là hoàn toàn có cơ sở khoa học.

Không chỉ dừng lại ở “ba lớp” cây giống, với vườn cà phê của ông Hùng, dự định của Trung tâm trong tương lai là còn chọn một phần diện tích hợp lý để trồng xen cây ăn quả như sầu riêng hoặc bơ, tạo thành mô hình “vườn cây ba giống cà phê và hai tầng”. “Nếu chọn giống bơ thì nên trồng ghép vào mỗi hecta khoảng 100 cây giống. Như vậy, chúng ta sẽ tạo ra mô hình cà phê ba lớp có tỷ lệ 25% cây giống chín sớm, 50% giống chín hơi muộn và 25% cây giống chín muộn, cùng với 100 cây bơ cho 1 ha thì không chỉ giá trị kinh tế của vườn cây được nâng cao mà vườn cây còn đảm bảo việc chắn gió, chống xói lở…” – kỹ sư Phan Hải Triều kỳ vọng.

Hiện nay, mô hình vườn cà phê “ba lớp giống trồng xen cây ăn quả này” chỉ mới là manh nha ở Lâm Đồng, và là mô hình lần đầu tiên được Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao kỹ thuật cây công nghiệp và cây ăn quả thuộc Sở NN-PTNT Lâm Đồng thử nghiệm tại vùng cà phê trọng điểm của tỉnh là huyện Bảo Lâm. Dẫu là mới, nhưng mô hình này đầy triển vọng là nhận định của nhiều nhà chuyên môn ở Tây Nguyên tại một số diễn đàn về nông nghiệp và phát triển trang trại được tổ chức trong thời gian gần đây.

Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

Phương Pháp Phòng Chống Nóng Cho Vật Nuôi

Trong các yếu tố của ngoại cảnh thì thời tiết có ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ vật nuôi. Vào mùa hè, thời tiết nắng nóng kéo dài có những ngày nhiệt độ cao trên 35oC ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ vật nuôi. Để hạn chế những bất lợi này và tạo điều kiện cho đàn vật nuôi phát triển tốt người chăn nuôi cần chú ý một số biện pháp kỹ thuật chống nóng như sau:

I - BIỆN PHÁP CHUNG

1.1 Đối với chuồng trại và vệ sinh chuồng trại

- Cần làm chuồng cao hơn mặt đất xung quanh 30-40cm, rộng rãi, thông thoáng, có thể là dưới bóng của tán cây to hoặc xung quanh trồng cây xanh.

- Hướng chuồng: theo hướng đông nam.

- Nên lợp bằng mái ngói hoặc mái lá cọ thiết kế mái chồng để lưu thông không khí tốt hơn.

- Mái hiên cách mặt đất ít nhất 2m

- Có hệ thống cửa để thông gió.

- Nền chuồng: Thường xuyên thu dọn, làm vệ sinh sạch sẽ các chất thải ( phân, nước tiểu) sẽ có tác dụng giảm sức nóng và khí độc từ các chất thải bốc lên.

1.2 Thức ăn:

- Cho ăn thức ăn đảm bảo chất lượng, không ôi thiu, mốc thối, không nhiễm bẩn, cho ăn đầy đủ khẩu phần ăn theo nhu cầu sinh lý từng giai đoạn.

- Sử dụng thức ăn hỗn hợp mua ở cửa hàng lớn, đáng tin cậy do các hãng thức ăn đảm bảo chất lượng, có uy tín như các hãng: Proconco, Hybro... sản xuất.

- Cho ăn những thức ăn dễ tiêu, uống nước mát đầy đủ, nên cho thức ăn tinh vào sáng sớm và chiều tối.

1.3 Chăn thả

* Không chăn thả khi trời quá nóng:

Không thả rông vật nuôi trong những ngày nắng nóng, nhất là thời điểm nắng nóng trong ngày là từ 10h - 16h hàng ngày vì sẽ làm vật nuôi say nắng. Đồng thời, tăng cường dinh dưỡng, đảm bảo cấp đủ nước sạch và khẩu phần ăn hợp lý để tăng sức đề kháng cho đàn vật nuôi.

- Trời nóng bức không để vật nuôi làm việc dưới trời nắng lâu.

- Định kỳ phun thuốc phòng, chống ve, ruồi, muỗi, bọ mạt...

II – MỘT SỐ BIỆN PHÁP CỤ THỂ PHÒNG CHỐNG NÓNG CHO TỪNG LOẠI VẬT NUÔI

2.1 Đối với gia cầm:

- Trong những ngày nắng nóng cần san thưa, nuôi nhốt gia cầm với mật độ vừa phải.

- Cho nước sạch vào bể tắm, thay nước 2 - 3 lần/ngày cho thuỷ cầm (vịt, ngan...) tắm mát, giải nhiệt. Đối với gà đẻ trong mùa nóng giảm hàm lượng đạm (ngô, thóc...) cho ăn thêm rau xanh, bã đậu tương + bổ sung vitamin C.

- Sử dụng chế phẩm Vườn Sinh Thái cho gia cầm uống với tỉ lệ 5ml chế phẩm pha với 12 – 15 lít nước. Hoặc nếu cho ăn thì dùng 5ml chế phẩm pha với 01 lít nước sau đó phun sương mù đều lên 10 – 12kg cám công nghiệp (tùy thuộc vào lượng thức ăn mà vật nuôi ăn hết bao nhiêu trong bữa chiều tối thì lấy lượng chế phẩm hòa trộn cho thích hợp), sau đó để 15 – 20 phút rồi cho vật nuôi ăn. Có tác dụng giảm nhiệt cho vật nuôi, giúp hấp thụ và tiêu hóa tối đa lượng thức ăn mà vật nuôi đưa vào cơ thể.

- Tiêm phòng bệnh 2 lần/năm đầy đủ các loại vacxin: Tụ huyết trùng (gà, ngan, vịt), cúm AH5N1 (gà, vịt)...để tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể.

2.2 Đối với gia súc:

2.2.1. Lợn:

- Tắm mát cho lợn từ 1 - 2 lần/ngày.

- Cho uống đủ nước sạch, mát bằng vòi có van tự động, bổ sung thêm muối ăn (0,1- 0,3g/kg thể trọng/ngày), đường gluco (0,5- 1g/kgTT/ngày) hoặc chất điện giải + B.Complex giàu vitamin C như: Unilyte Vit-C, cho vào thức ăn hay nước uống để giải nhiệt. Cho ăn thêm rau xanh, thức ăn tự chế (tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, rau xanh, củ quả ủ chua) hay thức ăn tổng hợp đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng. Nếu có điều kiện nên bố trí quạt thông gió.

- Cho lợn ăn đầy đủ khẩu phần ăn theo nhu cầu sinh lý từng giai đoạn.

- Sử dụng chế phẩm Vườn Sinh Thái cho lợn uống với tỉ lệ 5ml chế phẩm pha với 10 – 12 lít nước. Hoặc nếu cho ăn thì dùng 5ml chế phẩm pha với 01 lít nước sau đó phun sương mù đều lên 10 – 12kg cám công nghiệp (tùy thuộc vào lượng thức ăn mà vật nuôi ăn hết bao nhiêu trong bữa chiều tối thì lấy lượng chế phẩm hòa trộn cho thích hợp), sau đó để 15 – 20 phút rồi cho vật nuôi ăn. Có tác dụng giảm nhiệt cho vật nuôi, giúp hấp thụ và tiêu hóa tối đa lượng thức ăn mà vật nuôi đưa vào cơ thể

- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, phun thuốc khử trùng định kỳ bằng các loại thuốc khử trùng mới có hiệu quả cao với vi sinh vật gây bệnh như: Virkon, Han-Iodine, Benkocid…; dùng thuốc thú y (Diptere, Permethrin) tiêu diệt các động vật ký sinh ở trong và ngoài cơ thể lợn như ruồi, nhặng, muỗi, giun, sán, ve, rận…

Tránh vận chuyển lợn trong thời điểm nắng nóng cao trong ngày từ 11 – 15h. Cần giãn thưa mật độ nhốt lợn trong những ngày có nhiệt độ cao. Nếu có điều kiện thả lợn trong sân chơi có bóng cây mát.

- Tiêm đầy đủ các loại vacxin: Dịch tả, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, 2lần/năm.

2.2.2. Đối với Trâu, bò:

- Trong những ngày nắng nóng, buổi sáng đi chăn thả và cày kéo cho về sớm ( 6 - 9h )

- Buổi chiều chăn thả cho về muộn: từ 16 - 18h.

- Cho uống đủ nước mát bổ sung thêm muối: 2-3 g/10kg thể trọng. Sử dụng chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái cho trâu bò uống với tỉ lệ 5ml chế phẩm sinh học pha với 8 - 10 lít nước. Hoặc nếu cho ăn thì dùng 5ml chế phẩm sinh học pha với 01 lít nước sau đó phun sương mù đều lên 10 – 12kg cám công nghiệp hoặc 5ml chế phẩm sinh học pha với 01 – 02 lít nước phun đều lên 10kg rơm rạ, cỏ lá… (tùy thuộc vào lượng thức ăn mà vật nuôi ăn hết bao nhiêu trong bữa chiều tối thì lấy lượng chế phẩm sinh học hòa trộn cho thích hợp), sau đó để 15 – 20 phút rồi cho vật nuôi ăn. Có tác dụng giảm nhiệt cho vật nuôi, giúp hấp thụ và tiêu hóa tối đa lượng thức ăn mà vật nuôi đưa vào cơ thể.

- Cho ăn đủ cỏ xanh, rơm tốt: 10 - 15 kg/ con/ ngày. Bổ sung thêm tinh bột: 1- 2,5kg/ con/ ngày. Thức ăn xanh ( cỏ, bèo, thân lá lạc, ngô, ngọn sắn ), củ ( sắn, khoai lang tươi) ủ chua: 3-5 kg/ con/ ngày. Rơm ủ urê với vôi: 3-5 kg/ con/ ngày.

- Tiêm phòng đầy đủ các loại vacxin cơ bản: Tụ huyết trùng, lở mồm long móng 2 lần/ năm.

Ngoài ra, bà con có thể sử dụng 1 số nguyên liệu làm thức ăn giải nhiệt cho vật nuôi.

2.3 Một số loại thức ăn có tác dụng giải nhiệt chống nóng cho vật nuôi:

+ Vỏ dưa hấu: 2 kg vỏ dưa hấu còn tươi cắt thành miếng nhỏ cho lợn ăn. Thái nhỏ cho gà ăn: 50g/ con/ ngày chia 3 lần: Buổi trưa cho ăn nguyên vỏ dưa, buổi sáng, tối trộn lẫn vào thức ăn.

+ Dấm hoặc nước dưa chua: Cho lợn uống dấm hoặc nước dưa chua với lượng: 250 - 500 ml/ lần/ ngày tuỳ theo lợn lớn hay nhỏ.

(Sưu Tầm)

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

Hóa Chất Cực Độc Trong Chăn Nuôi

Chất tạo nạc là gì?

Thuốc có tác dụng giãn cơ trơn nên có thể làm thuốc giãn phế quản và giảm co bóp tử cung. Thuốc cũng làm tăng cường hoạt động thể lực, kích thích thần kinh trung ương, tăng huyết áp, tăng thân nhiệt và tăng vận chuyển ôxy trong máu. Clenbuterol có tác dụng đốt cháy mỡ trong cơ thể rất mạnh và dù không phải là thuốc thuộc nhóm steroid nhưng clenbuterol lại được cho là có tác dụng tăng khối cơ của cơ thể.

Nguy hiểm ra sao?

Do các chế phẩm có clenbuterol dễ dàng tìm thấy trên thị trường nên khả năng lạm dụng thuốc rất cao.

Ngộ độc thức ăn có chứa clenbuterol đặc biệt nguy hiểm đối với bệnh nhân tim mạch, đặc biệt những bệnh nhân bị rối loạn nhịp, suy tim và bệnh mạch vành. Với những đối tượng này, dù lượng clenbuterol tiêu thụ không nhiều để có thể gây nên nhưng triệu chứng lâm sàng rõ rệt vẫn đủ để có tác hại không lường trước được trên hệ tim mạch, đặc biệt có thể gây rối loạn nhịp nguy hiểm, thậm chí nhồi máu cơ tim đưa đến tử vong.

Phòng tránh thế nào?

Kiểm soát việc sử dụng chất tạo nạc trong chăn nuôi gia súc là vấn đề lớn. Bởi nếu tình trạng vẫn tiếp diễn thì người chăn nuôi chân chính sẽ bị thiệt thòi đầu tiên. Trong bài viết này, xin được đưa ra một số lời khuyên cho người tiêu dùng từ kinh nghiệm trên thế giới:

1- Vì nội tạng của động vật, đặc biệt gan là nơi chứa clenbuterol với hàm lượng cao nếu gia súc được nuôi bằng chất tạo nạc, nên người tiêu dùng cần cân nhắc hạn chế sử dụng các bộ phận này.

2- Không nên hi vọng việc nấu chín sẽ làm phân hủy clenbuterol!3- Chỉ nên mua thịt từ những nguồn đáng tin cậy, có sự kiểm soát chặt chẽ từ nguồn cung cấp đến điểm phân phối.

Nếu xuất hiện các triệu chứng bất an, lo lắng, nhịp tim nhanh, run cơ, đau cơ và nhức đầu sau khi ăn thịt, ăn nội tạng gia súc thì cần nhanh chóng đến các cơ sở y tế để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời.

(Sưu tầm)

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Làm Thế Nào Nhận Biết Thịt Lợn( Heo) Nhiễm Chất Cấm

Trước tình trạng heo bị nhiễm chất kích nạc khiến người tiêu dùng tẩy chay sản phẩm này, nhiều hộ chăn nuôi và các chuyên gia ngành nông nghiệp đã có nhiều chia sẻ trong việc phát hiện thịt heo nhiễm chất cấm.

Theo kinh nghiệm của chính những hộ nuôi, quan sát thịt trên quầy bán, nếu thấy thịt nạc dính sát vào da mà không có lớp mỡ đệm thì rất có thể con heo đó được nuôi bằng hóa chất cấm, hay còn gọi là chất kích nạc, tăng trọng.

Ngoài ra, theo PGS.TS Dương Thanh Liêm, Bộ môn Dinh dưỡng động vật, Khoa Chăn nuôi - Thú y, ĐH Nông Lâm TP HCM, với những con heo dùng một số loại chất cấm (tạo nạc, tăng trọng…), khi giết thịt thì thịt thường có màu đỏ sậm ngả sang đen, thịt mất đi tính hấp dẫn vốn có. Hoặc trên bề mặt da, đặc biệt ở các vị trí khớp, khuỷu… có những quầng chấm đỏ lan rộng, pha lẫn sậm đen. Đây là biểu hiện của vật nuôi như bò, cừu, heo bị hóa chất làm vỡ các mao mạch, khiến máu tung tóe ở phía dưới da. Hệ quả của việc khi bị stress trước lúc giết mổ.

Cũng theo PGS Liêm, chất cấm khi vào cơ thể vật nuôi khiến sợi cơ phình to ra mà không tăng DNA (Deoxyribonucleic acid, là một phân tử nucleic acid mang thông tin di truyền) trong tế bào sợi cơ, vì vậy chỉ làm cho thịt nạc trở nên khô, thô và nghèo chất béo, mất đi sự mềm mại, mất vị béo của thịt. Các loại thực phẩm như giò, chả lụa khi sử dụng thịt heo này để chế biến thường bị cứng mà không cần đến đến hàn the. PGS Liêm cũng khẳng định, hầu hết những chất cấm trong chăn nuôi hiện nay là những hợp chất có nguồn gốc tổng hợp, nên đều có khả năng tồn dư trong thịt, không bị hư khi chế biến ở nhiệt độ cao như chiên, nướng…

Tuy nhiên, ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hiệp hội chăn nuôi Đồng Nai, cho rằng, không có phương pháp thủ công nào hữu hiệu để nhận biết thịt heo có hay không nhiễm chất cấm. Chất cấm sẽ vẫn còn đất sống bởi nhu cầu sử dụng thịt nạc tinh của người tiêu dùng đã tiếp tay cho các thương lái thu mua heo đưa vào các hộ nuôi. âng Công cho rằng, biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay là một mặt các trại nuôi lớn sẽ kết hợp với các trung tâm giống chuyển giao và nhân rộng những loại giống heo siêu nạc. Mặt khác để loại bỏ chất cấm, cơ quan chức năng phải tăng cường thanh tra, giám sát các cửa hàng buôn bán thuốc và thức ăn chăn nuôi, kiểm soát chặt việc nhập lậu các loại hóa chất độc hại này.

“Một lượng lớn chất cấm trên xuất hiện thị trường từ nhiều năm nay chứng tỏ việc vận chuyển không dừng lại ở phạm vi nhỏ lẻ, mà có thể được vận chuyển bằng phương tiện cỡ lớn, thậm chí là container, thì cơ quan chức năng không biết hay cố tình làm ngơ…”, ông Công nói. Trước tình hình bức xúc này, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản yêu cầu UBND tỉnh Đồng Nai chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế kiểm tra sự việc. Phải có biện pháp xử lý, ngăn chặn hiệu quả tình trạng sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, báo cáo Thủ tướng trước ngày 30/3 tới. Ngành nông nghiệp Đồng Nai cũng đang đưa giải pháp kết hợp giữa kiểm dịch trước khi xuất chuồng và lấy mẫu nước tiểu của heo để kiểm tra nhanh chất cấm. Thú y TP HCM cũng đang chuẩn bị sử dụng thiết bị kiểm tra nhanh để phát hiện tồn dư chất cấm trên heo đưa vào địa bàn và 13 tỉnh lân cận có liên kết với thành phố này.

Theo Đăng Thư (Đất Việt)

Chia Sẻ

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More